Dành cho chuyên gia

Nghiên cứu 1: Phóng thích IL1a

Dermatopoietin® kích thích các tế bào sừng sản xuất ra  interleukin-1 alpha

Hình 1

Các tế bào sừng được nuôi cấy với các nồng độ IL1 alpha khác nhau (= Dermatopoietin®) trong một giờ, rửa sạch và làm đông lần nữa. Hình cho thấy sự phóng thích IL1 alpha vào môi trường sau 1,3,24 và 48 giờ.

Hình 2

Trong tất cả các sản phẩm của chúng tôi, Dermatopoietin® luôn được kết hợp với Hexadeltine®, một hexapeptide (= HP18). Tác dụng của nó là ức chế phản ứng muộn của tế bào sừng bằng cách bình thường hóa và ngăn chặn sự phóng thích quá mức của IL1 alpha sau 24 và 48 giờ.

Nghiên cứu 2: Kích thích collagen

Nghiên cứu kính hiển vi huỳnh quang hai photon về tác dụng của Dermatopoietin® đối với hàm lượng collagen và elastin trên da cẳng tay của tình nguyện viên

Nghiên cứu được thực hiện bởi công ty TNHH Neurotar Ltd, Helsinki, Phần Lan. Báo cáo chi tiết hơn về công trình nghiên cứu nằm ở đây.

Phương pháp

Nghiên cứu hiển vi hai photon là một kỹ thuật hình ảnh mới cho phép hiển thị hình ảnh 3 chiều của các cấu trúc nội tế bào ở độ sâu khoảng 250 µm với độ phân giải dưới 1 µm (‘sinh thiết quang không xâm lấn’).

  • Sản phẩm thử nghiệm: Dermatopoietin® trong công thức dạng gel
  • Giả dược: Gel không có Dermatopoietin®

Cả hai sản phẩm được bôi hai lần mỗi ngày vào cẳng tay trái và phải của các tình nguyện viên trong 4 tuần. Sau 7, 14, 28 và 60 ngày (tức là 32 ngày sau lần bôi sản phẩm cuối cùng), tư liệu hình ảnh chụp cả hai cẳng tay được tổng hợp lại. Tất cả các thông số hình ảnh được giữ giống nhau giữa các phiên hình ảnh và cùng một vị trí da được nhắm chụp mỗi lần. Phân tích thống kê được thực hiện bằng cách sử dụng bài kiểm tra đối chiếu Student’s paired t-test.

Da cẳng tay của những người tình nguyện lớn tuổi được phân tích trong thời gian dài. Tự động phát quang và tư liệu ảnh từ quá trình tạo lập hình ảnh thống nhất lần hai (SHG) được thu thập qua hai kênh riêng biệt. Tập tư liệu bao gồm các hình ảnh thu được ở độ sâu tăng dần từ 0 đến khoảng 210 µm, có thể coi như mặt cắt dọc của da. Trước khi áp dụng các sản phẩm thử nghiệm, tư liệu ảnh về tình trạng ban đầu đã được thu thập vào Ngày 0.

Kết quả thí nghiệm

Các số liệu sau đây cho thấy một số kết quả điển hình:

Hình 1:

So sánh collagen và elastin ở tình trạng ban đầu (ngày 0) và sau khi áp dụng 28 ngày giả dược và sản phẩm thử nghiệm có chứa Dermatopoietin®

Hình ảnh thu được ở độ sâu 80 µm (hạ bì), cho thấy sự gia tăng mạnh mẽ của collagen (màu đỏ) và elastin (màu xanh lá cây) sau khi sử dụng Dermatopoietin so với dùng giả dược và tình trạng ban đầu.

Hình 2:

So sánh tình trạng ban đầu (ngày 0) so với sử dụng Dermatopoietin® trong 2 tuần ở các độ sâu khác nhau của da

Hình ảnh được lấy từ cùng một điểm da. Sự gia tăng collagen (màu đỏ) trong lớp hạ bì sau 2 tuần sử dụng Dermatopoietin® là rất rõ ràng so với tình trạng ban đầu. Không rõ nguyên nhân gia tăng tự phát huỳnh quang màu xanh lá cây trong các lớp hạt và lớp lân cận của lớp biểu bì.

Hình 3:

Hiệu quả Dermatopoietin® so với giả dược và so với tình trạng ban đầu theo thời gian

  • Thời gian bôi dược: Ngày 1 đến Ngày 28
  • Biểu bì: 0 - 50 µm. Đường cong tự phát huỳnh quang màu xanh lá cây phản ánh keratin và flavoprotein.
  • Lớp hạ bì: 50 - 200 µm. Đường cong màu đỏ phản ánh collagen, màu xanh lá cây phản ánh elastin.

Không rõ nguyên nhân gia tăng tín hiệu tự phát huỳnh quang trong lớp biểu bì khi điều trị (giả dược và dược). Chỉ có điều trị bằng Dermatopoietin® là dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ (gần gấp đôi diện tích dưới đường cong) của elastin và collagen trong lớp hạ bì sau 2 - 4 tuần. Vào ngày 60, 32 ngày sau khi ngừng điều trị, hàm lượng collagen trở lại khoảng 20% so với tình trạng ban đầu.

Nghiên cứu 3: Chống lão hoá

Nghiên cứu hiệu quả lâm sàng da liễu trên da lão hoá

Phương pháp

  • Nghiên cứu ngẫu nhiên, giấu kín kép, kiểm soát giả dược với 22 tình nguyện viên nữ khỏe mạnh
  • Tuổi: 51 ± 6 tuổi
  • Verum chứa Dermatopoietin® hoặc giả dược được bôi lên cẳng tay trái hoặc phải trong 8 tuần.

Đo lường

Cấu trúc da bằng siêu âm ở 20 MHz và độ đàn hồi của da bằng phép đo vào ngày 0, 28 và 56.

Kết quả

Tất cả các đối tượng cho thấy mật độ da tăng đáng kể kèm theo sự gia tăng trung bình độ đàn hồi của da tương ứng 15 - 21% sau 28 hoặc 56 ngày.

Siêu âm điển hình của da trước và sau khi sử dụng Dermatopoietin®

Mã màu: Màu càng dày và càng nhạt thì protein càng đậm đặc. Có thể thấy rõ các lớp keratin trong lớp biểu bì (dải màu vàng ở bên trái) và collagen ở lớp hạ bì (lớp màu xanh lá cây rộng). Sử dụng Dermatopoietin® đã dẫn đến sự tích tụ collagen trong lớp hạ bì và củng cố lớp biểu bì. Các điểm ảnh đen đại diện cho proteoglycan, lipid và nước.

Da của một phụ nữ 50 tuổi thể hiện rõ các dấu hiệu lão hoá

Sau 4 tuần sử dụng Dermatopoietin®

Sau 8 tuần sử dụng Dermatopoietin®

Truy cập báo cáo chi tiết hơn về công trình nghiên cứu ở đây: https://assets.evenswiss.ch/uploads/pdf/anti-aging-study.pdf

Nghiên cứu 4: Chống sần da

Nghiên cứu hiệu quả lâm sàng da liễu trên da sần cam

Phương pháp

  • Nghiên cứu ngẫu nhiên, giấu kín kép, kiểm soát giả dược với 20 tình nguyện viên nữ khỏe mạnh
  • Tuổi: 44 ± 9, Chỉ số khối cơ thể trung bình 25
  • Serum dưỡng thể chứa Dermatopoietin® hoặc giả dược được bôi lên đùi trái hoặc phải trong 8 tuần.

Đo lường

Cấu trúc da, đặc biệt là khoảng cách tiếp giáp hạ bì – biểu bì, bằng siêu âm ở 20 MHz vào ngày 0, 28 và 56.

Kết quả

Da sần cam được đặc trưng bởi sự xâm nhập của lipid từ lớp hạ bì vào lớp biểu bì, dẫn đến sự tiếp giáp ‘gập ghềnh’ giữa hai lớp này và bề mặt da sần sùi. Bôi Serum chứa Dermatopoietin® đã giúp làm phẳng tiếp giáp hạ bì - bì, giảm các nốt mỡ con trên lớp hạ bì, lớp hạ bì dày đặc hơn và bề mặt da mịn màng hơn như hình dưới đây.

Siêu âm da sần

Mã màu: Màu càng dày và càng nhạt thì protein càng đậm đặc. Có thể thấy rõ các lớp keratin trong lớp biểu bì (dải màu vàng ở bên trái) và collagen ở lớp hạ bì (lớp màu xanh lá cây rộng). Sử dụng Dermatopoietin® đã dẫn đến sự tích tụ collagen trong lớp hạ bì và củng cố lớp biểu bì. Các điểm ảnh đen đại diện cho proteoglycan, lipid và nước.

 

Da đùi điển hình của một phụ nữ 55 tuổi bị sần mạnh

Sau 4 tuần sử dụng Dermatopoietin®

Sau 8 tuần sử dụng Dermatopoietin®

 

 Trước khi dùng Dermatopoietin®

Sau 8 tuần sử dụng Dermatopoietin®

Truy cập báo cáo chi tiết hơn về công trình nghiên cứu ở đây: https://assets.evenswiss.ch/uploads/pdf/anti-cellulite-study.pdf

Nghiên cứu 5: Rụng tóc

Nghiên cứu lâm sàng da liễu về chứng rụng tóc

Phương pháp

  • Nghiên cứu ngẫu nhiên, giấu kín kép, kiểm soát giả dược với 26 tình nguyện viên khỏe mạnh
  • Tuổi trung bình: 45 years, tỉ lệ nữ/nam = 2:1
  • Lượng tóc rụng mỗi ngày: ≤ 110. Các đối tượng rụng tóc nhiều hơn (đo trong hai lần chải đầu mỗi ngày) không được tham gia nghiên cứu.
  • Chỉ định: Gel dưỡng tóc chứa Dermatopoietin® hoặc giả dược trong 2 x 4 ngày, nghỉ 10 ngày giữa chừng. Gel được bôi để qua đêm và các tình nguyện viên được phép gội bỏ vào sáng hôm sau.

Cách thức đo

Tóc rụng được thu thập hai lần mỗi ngày vào các ngày chỉ định chải đầu, sau đó đếm số lượng.

Lược đồ

Kết quả

Dermatopoietin® làm giảm rụng tóc đáng kể và có tác dụng kéo dài so với giả dược.

Hình: Dermatopoietin® và giả dược thay đổi sự rụng tóc so với tình trạng ban đầu trong khoảng thời gian hơn 3 tháng

Giá trị trung bình là - 25,3 ± 5,5%. Giá trị tương ứng của giả dược là +1,3 ± 3,4%.

Sự khác biệt giữa nhóm dùng Dermatopoietin® và nhóm dùng giả dược có ý nghĩa thống kê, với p <0,01.

Nghiên cứu 6: EVENSWISS® Eye Complex

Nghiên cứu lâm sàng da liễu về vết chân chim và bọng thâm dưới mắt

Phương pháp

  • "Vết chân chim": Nghiên cứu mở, theo thời gian dài trên 16 phụ nữ khỏe mạnh, tuổi trung bình: 58 ± 6 tuổi
  • "Bọng mắt thâm": Nghiên cứu mở, theo thời gian dài trên 6 phụ nữ khỏe mạnh, tuổi trung bình: 36 ± 12 tuổi
  • Chỉ định: EVENSWISS® Eye Complex được bôi quanh mắt hai lần mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối, trong vòng 84 ngày

Đo lường

  • Độ sâu nếp nhăn được đánh giá bằng phép đo góc chiếu rìa và được chuyên gia phân loại trên cơ sở các bức ảnh khuôn mặt được tiêu chuẩn hóa (VisioFace) vào Ngày 0, 14, 28, 42, 70 và 84.
  • Bọng thâm dưới mắt được đánh giá được chuyên gia đánh giá phân loại dựa trên các bức ảnh khuôn mặt được tiêu chuẩn hóa (VisioFace) vào Ngày 0, 14, 28, 42 và 70

Kết quả

  • 63% tình nguyện viên cho thấy giảm đáng kể độ sâu nếp nhăn sau 2 tuần, 100% sau 12 tuần khi được đo bằng phương pháp định hình quang học.
  • Chuyên gia độc lập đánh giá ảnh khuôn mặt đã xác nhận hiệu quả chống nhăn ở 81% tình nguyện viên.
  • Có thể thấy bọng thâm dưới mắt màu rõ rệt ở tất cả tình nguyện viên trong vòng 4 đến 10 tuần.

 

Ảnh chụp vết chân chim trước và sau khi dùng sản phẩm

 

Ảnh chụp bọng thâm dưới mắt trước và sau khi dùng sản phẩm

 

Chia sẻ: